22px
Nghe đoạn này- 1705Nước trôi hoa rụng đã yên,
- 1706Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian.𫨩兜地獄於沔人間
- 1707Khuyển ưng đã đắt mưu gian,犬鷹㐌担謀奸
- 1708Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.域娘迻𫴋底安船
- 1709Buồm cao lèo thẳng cánh suyền,
- 1710Đè chừng huyện Tích băng miền vượt sang.
- 1711Dỡ đò lên trước sảnh đường,
- 1712Khuyển ưng hai đứa nộp nàng dâng công.犬鷹𠄩𠀲納娘𤼸功
- 1713Vực nàng tạm xuống môn phòng,域娘暫𫴋門房
- 1714Hãy còn thiêm thiếp giấc nồng chưa phai.唉群帖帖職燶渚派
- 1715Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai,
- 1716Cửa nhà đâu mất lâu đài nào đây?𨷯茹兜𠅎樓臺𱜢低
- 1717Bàng hoàng giở tỉnh giở say,
- 1718Sảnh đường mảng tiếng đòi ngay lên hầu.廳堂𠻵㗂隊𬆄𨖲侯
- 1719A hoàn trên dưới giục mau,
- 1720Hãi hùng nàng mới theo sau một người.
- 1721Ngước trông tòa rộng dãy dài,
- 1722Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên.
- 1723Ban ngày sáp thắp hai bên,班𣈜蠟𤏧𠄩邊
- 1724Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.
- 1725Gạn gùng ngọn hỏi ngành tra,𠲟𡃕𦰟𠳨梗查
- 1726Sự mình nàng phải cứ mà gửi thưa.
- 1727Bất tình nổi trận mây mưa,不情浽陣𩄲𩅹
- 1728Mắng rằng: Những giống bơ thờ quên thân!
- 1729Con này chẳng phải thiện nhân,昆尼拯沛善人
- 1730Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng.
- 1731Ra tuồng mèo mả gà đồng,
- 1732Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào.𠚢從隴縱拯衝皮𱜢
- 1733Đã đem mình bán cửa tao,㐌命半𨷶蚤
- 1734Lại còn khủng khỉnh làm cao thế này.吏群𠺱𠾶爫高世尼
- 1735Nào là gia pháp nọ bay!
- 1736Hãy cho ba chục biết tay một lần.唉朱𠀧𨔿別𢬣𱥺吝
- 1737A hoàn trên dưới dạ ran,
- 1738Dẫu rằng trăm miệng không phân lẽ nào.
- 1739Trúc côn ra sức đập vào,竹棍𠚢飭拉𠓨
- 1740Thịt nào chẳng nát gan nào chẳng kinh.𦧘𱜢拯肝𱜢拯驚
- 1741Xót thay đào lý một cành,㤕台桃李𱥺梗
- 1742Một phen mưa gió tan tành một phen.𱥺畨𩅹𩙍散情𱥺畨
- 1743Hoa nô truyền dạy đổi tên,花奴傳𠰺𢷮𠸜
- 1744Buồng the dạy ép vào phiên thị tì.
- 1745Ra vào theo lũ thanh y,𠚢𠓨蹺𠎪青衣
- 1746Dãi dầu tóc rối da chì quản bao.𤋵油𩯀𦇒䏧𨨲管包
- 1747Quản gia có một mụ nào,
- 1748Thấy người thấy nết ra vào mà thương.𧡊𠊚𧡊𠚢𠓨𦓡傷
- 1749Khi chè chén khi thuốc thang,欺茶𱔩欺𱿌湯
- 1750Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh.
- 1751Dạy rằng: May rủi đã đành,
- 1752Liểu bồ mình giữ lấy mình cho hay.
- 1753Cũng là oan nghiệp chi đây,拱羅寃業之低
- 1754Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng.沙機買典勢尼仍
- 1755Ở đây tai vách mạch rừng,於低腮壁脉棱
- 1756Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi.
- 1757Kẻo khi sấm sét bất kỳ,矯欺𩆐𩂶不期
- 1758Con ong cái kiến kêu gì được oan?
- 1759Nàng càng giọt ngọc như chan,娘強湥玉如滇
- 1760Nỗi lòng luống những bàng hoàng niềm tây:
- 1761Phong trần kiếp chịu đã đầy,風塵刼𠹾㐌菭
- 1762Lầm than lại có thứ này bằng hai.淋炭吏固次尼朋𠄩
- 1763Phận sao bạc chẳng vừa thôi,分牢泊拯﨤催
- 1764Khăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan.掯掯纀買𥙩𠊚紅顔
- 1765Đã đành túc trái tiền oan,㐌停夙債前寃
- 1766Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi.拱料玉花殘𦓡之
- 1767Những là nương náu qua thì,
- 1768Tiểu thư phải buổi mới về ninh gia.
- 1769Mẹ con trò chuyện lân la,媄𡥵路傳隣羅
- 1770Phu nhân mới gọi nàng ra dạy lời:
- 1771Tiểu thư dưới trướng thiếu người,小姐帳少𠊚
- 1772Cho về bên ấy theo đòi lầu trang.朱𧗱邊意蹺隊樓粧
- 1773Lãnh lời nàng mới theo sang,
- 1774Biết đâu địa ngục thiên đàng là đâu.別兜地獄天堂羅兜
- 1775Sớm khuya khăn mắt lược đầu,
- 1776Phận con hầu giữ con hầu dám sai.
- 1777Phải đêm êm ả chiều trời,
- 1778Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày.竹絲𠳨典藝制每𣈜
- 1779Lĩnh lời nàng mới lựa dây,領𠳒娘買攄𦀊
- 1780Nỉ non thánh thót dễ say lòng người.𠰚𡽫𡃑𡁾易醝𢚸𠊚
- 1781Tiểu thư xem cũng thương tài,小姐䀡拱傷才
- 1782Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.囷威𱻌拱𠄽𦊚分
- 1783Cửa người đày đọa chút thân,
- 1784Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ lòng.
- 1785Lâm Tri chút nghĩa đèo bồng,
- 1786Nước bèo để chữ tương phùng kiếp sau.渃䕯抵𡦂相逢刼𡢐
- 1787Bốn phương mây trắng một màu,𦊚方𩄲𤽸𱥺牟
- 1788Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.
- 1789Lần lần tháng trọn ngày qua,吝吝𣎃論𣈜戈
- 1790Nỗi gần nào biết đường xa thế này.餒𧵆𱜢別塘賒世尼
Chú giải trong đoạn
Xem tất cả chú giải (bấm vào từ gạch chân để xem nhanh)
- Cảnh suyềnCánh buồm đi nhanh.
- Hoàng LươngKê vàng. Xưa Lư sinh đời Đường đi thi gặp ông già họ Lã cho mượn cái gối nằm ngủ. Chàng mơ thấy mình thi đỗ, làm quan vinh hoa phú quý hơn 20 năm. Lúc tỉnh giấc thì nồi kê của nhà hàng nấu chưa chín. Người sau bèn dùng hai chữ hoàng lương để chỉ giấc mơ. Hồn mai: Xưa có người gặp cô gái trong rừng, cùng uống rượu, sáng dậy thấy mình nằm dưới gốc cây mai. Đây chỉ có ý nói là giấc mơ màng.
- A hoàncác đầy tớ gái trẻ tuổi.
- Thiên quang trủng tểThiên quang là loại quan đứng đầu sáu lại quan do nhà Chu đặt ra. Trủng tể tức là chức tể tướng.
- Thất bảoBảy sản vật quý như vàng, bực, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, trân châu. ở đây chỉ cái giường có khảm các vật quý.
- Mèo mả gà đồngMèo hoang sống ở mồ mả;gà hoang sống ở ngoài đồng, người ta thường dùng để ví với hạng người lông bông, giang hồ.
- Gia phápPhép tắc trong nhà để trừng phạt gia nhân và tôi tớ.
- Trúc cônGậy tre.
- Đào lýCây đào, cây lý, thường dùng để chỉ phụ nữ.
- Phiên thị tỳThị tỳ ở nhà quyền quý rất nhiều, chia ra từng ban và từng phiên mà hầu hạ, nên gọi là phiên thị tỳ.
- Thanh lyáo xanh. Đầy tớ gái các nhà giàu sang đời xưa đều mặc áo xanh, nên gọi là thanh y.
- Quản giaTrong gia đình quan lại phong kiến đời xưa thường dùng những người đàn bà đứng tuổi trông coi việc nhà và cai quản số hầu gái, gọi là quản gia.
- Phương tiệnở đây có nghĩa là đối đãi, xử trí mọi việc. Hiếu sinh: Quí trọng sinh mệnh, ý nói tránh cho người ta con đường khổ sở chết chóc.
- Câu 1752Liễu và bồ là hai giống cây mềm yếu thường được dùng để chỉ phụ nữ.
- Oan nghiệpTiền oan, nghiệp chướng, có ý nói có oan thù và tội lỗi từ thời trước để lại.
- Tai vách mạch rừngDo câu thành ngữ: Rừng có mạch vách có tai.
- Phong trầnNghĩa đen là gió bụi, thường được dùng để chỉ sự khổ sở mà người đời phải chịu.
- Túc trái tiền oanNợ nần, oán thù từ kiếp trước để lại.
- Địa ngục, thiên đườngTheo giáo lý đạo Phật thì những người độc ác sau khi chết phải xuống địa ngục để chịu tội, còn hồn những người lương thiện thì được lên thiên đường. ở đây ý nói nơi khổ ải và nơi sung sướng.
- Trúc tơDo chữ ty trúc: ty là tơ để làm dây đàn, trúc là tre để làm ống sáo. Hai chữ này thường được dùng để chỉ các thứ âm nhạc nói chung.
- Tương phùngGặp nhau. Câu này ý nói: Thuý Kiều nghĩ rằng tình nghĩa giữa mình với Thúc Sinh muốn nối lại thì hoạ chăng chỉ ở kiếp khác.
- Câu 1787Thuý Kiều trông ra bốn bể thì thấy đâu cũng man mác một màu mây trắng mà không thấy quê nhà.
- Cố quốcNguyên nghĩa là nước cũ, sau cũng dùng như chữ cố hương (quê cũ).
Lời thơ và chú giải: kho dữ liệu Truyện Kiều của Bói Kiều (bản Quốc ngữ 3254 câu). Nội dung mang tính tham khảo.