22px
Nghe đoạn này- 287Nhẫn từ quán khách lân la,忍自舘客鄰羅
- 288Tuần trăng thấm thoắt nay đà thèm hai.
- 289Cách tường phải buổi êm trời,隔墻沛𣇜淹𡗶
- 290Dưới đào dường có bóng người thướt tha.桃𱻌固䏾𠊚切他
- 291Buông cầm xốc áo vội ra,𢭾琹襖倍𠚢
- 292Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh.香群𦹳𠽋𠊚它永醒
- 293Lần theo tường gấm dạo quanh,𨁮蹺墻錦𨄹觥
- 294Trên đào nhác thấy một cành kim thoa.𨕭桃𥋷𧡊𱥺梗金釵
- 295Giơ tay với lấy về nhà:拁𢬣𢭲𥙩衛茹
- 296Này trong khuê các đâu mà đến đây?尼𥪝閨閣兜麻典低
- 297Ngẫm âu người ấy báu này,𡄎歐𠊚意寶尼
- 298Chẳng duyên chưa dễ vào tay ai cầm!拯緣渚易𠓨𢬣埃扲
- 299Liền tay ngắm nghía biếng nằm,連𢬣𥋴𥊘𠴠𦣰
- 300Hãy còn thoang thoảng hương trầm chưa phai.唉群倘倘香沉渚派
- 301Tan sương đã thấy bóng người,散霜㐌𧡊䏾𠊚
- 302Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.觥墻𠚢意尋頺菫魚
- 303Sinh đà có ý đợi chờ,生它固意待徐
- 304Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:隔墻𨖲㗂賒迻厭𢚸
- 305Thoa này bắt được hư không,釵尼特虚空
- 306Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?別兜合浦麻蒙珠衛
- 307Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:㗂翹𦖑律邊箕
- 308Ơn lòng quân tử sá gì của rơi.
- 309Chiếc thoa nào của mấy mươi,隻釵𱜢𧵑𱥯𨑮
- 310Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao?麻𢚸重義輕財掣包
- 311Sinh rằng: Lân lý ra vào生浪鄰里𠚢𠓨
- 312Gần đây nào phải người nào xa xôi,𧵆低𱜢沛𠊚𱜢賒吹
- 313Được rầy nhờ chút thơm rơi.
- 314Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!計它少𱞐𢚸𠊚閉
- 315Bấy lâu mời được một ngày,
- 316Dừng chân, gạn chút niềm tây gọi là...停蹎𣵲𡭧念西噲羅
- 317Vội về thêm lấy của nhà,倍衛添𥙩𧵑茹
- 318Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông.釧鐄堆隻巾纙𱥺𱡴
- 319Thang mây dón bước ngọn tường,
- 320Phải người hôm nọ rõ ràng chẳng nhe.沛𠊚𣋚怒𤑟𤉜㖇
- 321Sượng sùng giữ ý rụt rè.𠶤𠼾𢷣意揬提
- 322Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu.
- 323Rằng: Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,浪自偶爾﨤饒
- 324Thầm trông trộm nhớ, bấy lâu đã chồn.𬂙濫𢖵閉𥹰㐌𤶐
- 325Xương mai tính đã rũ mòn.梅併㐌𢷀𤷱
- 326Lần lừa ai biết hãy còn hôm nay!𨁮驢埃別唉群𣋚
- 327Tháng tròn như gửi cung mây,𣎃𧷺如𠳚宫𩄲
- 328Trần trần một phận ấp cây đã liều!陳陳𱥺分挹𣘃㐌料
- 329Tiện đây xin một hai điều,便低嗔𱥺𠄩調
- 330Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?臺𦎛𤐝典𨁪䕯朱庒
- 331Ngần ngừ nàng mới thưa rằng:菫魚娘買䜹浪
- 332Thói nhà băng tuyết, chất hằng phỉ phong𫗁茹氷雪質恒菲葑
- 333Dấu khi lá thắm, chỉ hồng
- 334Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.𢧚庒𪰛拱在𢚸媄吒
- 335Nặng lòng xót liễu, vì hoa,𥘀𢚸㤕柳爲花
- 336Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa!𥘷䜹㐌別兜麻监𠽔
- 337Sinh rằng: Rày gió mai mưa,生浪𣈙𩙍𣈕𩅹
- 338Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi!
- 339Dầu chăng xét tấm tình si.
- 340Thiệt đây mà có ích gì đến ai?舌低麻固益之典埃
- 341Chút chi gắn bó một hai,𡭧之哏咘𱥺𠄩
- 342Cho đành, rồi sẽ liệu bài mối manh.朱停来仕料排䋦萌
- 343Khuôn thiêng dù phụ tấc thành,
- 344Cũng liều bỏ quá xuân xanh một đời.拱料補過春撑𱥺𠁀
- 345Lượng xuân dù quyết hẹp hòi.量春油決挾徊
- 346Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru!
- 347Lặng nghe lời nói như ru,朗𦖑𠳒呐如
- 348Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng...朝春易遣秋礙顒
- 349Rằng: Trong buổi mới lạ lùng,浪𥪝𣇜買邏𨓡
- 350Nể lòng có lẽ cầm lòng cho đang!𠰚𢚸固𨤰扲𢚸朱當
- 351Đã lòng quân tử đa mang,㐌𢚸君子多恾
- 352Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.
- 353Được lời như cởi tấm lòng,
- 354Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.𢷣金釵貝巾紅𢭂𢬣
- 355Rằng: Trăm năm cũng từ đây,浪𤾓𢆥拱自低
- 356Của tin, gọi một chút này làm ghi!𧵑信噲𱥺𡭧尼爫𥱬
- 357Sẵn tay khăn gấm quạt quỳ
- 358Với cành thoa ấy, tức thì đổi trao.貝梗釵意卽𪰛𢷮𢭂
- 359Một lời gắn bó tất giao,
- 360Mé sau dường có xôn xao tiếng người
- 361Vội vàng lá rụng hoa rơi,
- 362Chàng về viện sách, nàng dời lầu trang.
- 363Từ phen đá biết tuổi vàng,自番𥒥别歲鐄
- 364Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ.
- 365Sông Tương một dải nông sờ,瀧湘𱥺解農𣻄
- 366Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia.邊𬂙頭怒邊除𡳳箕
- 367Một tường tuyết trở sương che.
- 368Tin xuân đâu dễ đi về cho năng.信春兜易𠫾衛朱能
Chú giải trong đoạn
Xem tất cả chú giải (bấm vào từ gạch chân để xem nhanh)
- Nhẫn từKể từ khi (tiếng cổ).
- Tường gấmDo chữ cẩm tường, bức tường gạch có vẽ hoa như gấm (một cách tô điểm văn hoa).
- Kim thoaCái thoa gài tóc bằng vàng.
- Khuê cácBuồng lầu, nơi ở của con gái nhà sang trọng.
- Hư khôngBỗng không, tự nhiên.
- Hợp phốTên một quận, trước thuộc Giao châu, nay thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Theo Hán sử: Nguyên xưa, ven bể quận Hợp Phố có loại trai sinh ra một loại ngọc quý, nhưng vì bọn quan tước tham nhũng, bắt nhân dân đi mò ngọc cho chúng, dân tình khổ cực, nên ngọc trai biến đi nơi khác hết. Về sau, có vị quan thanh liêm là Mạnh Thường đến nhận chức, cải cách, chính sự, bãi lệnh mò ngọc, thì ngọc trai lại dần dần trở về. Do đó, người ta thường nói "Châu về Hợp Phố" (Hợp Phố châu hoàn), để chỉ những trường hợp vật báu đã bị mất lại trở về với chủ cũ.
- Lân lýNguyên nghĩa là xóm và làng, đây dùng như nhgiã bà con láng giềng.
- Niềm tâyNỗi lòng, chút tâm sự riêng.
- Thang mâyDo chữ vân thê, nguyên là một khí cụ của quân đội thời dùng để trèo vào thành bên địch (thanh cao, tưởng có thể bắc tới mây được).
- Người hôm nọNgười gặp gỡ hôm đi thanh minh. Chăng nhe: (từ cổ) phải chăng là.
- KẻChỉ Kim Trọng. Người: Chỉ Kiều, Kim Trọng nhìn tỏ mặt Kiều, mà Kiều thì e thẹn cúi đầu.
- Ngẫu nhĩTình cờ, cũng như "ngẫu nhiên".
- ChồnMệt mỏi, ý nói sốt ruột lắm.
- Xương maiXương vóc gầy. Cây mai, thân và cành nhỏ bé, nên người ta thường gọi những người xương vóc gầy là mai cốt (xương mai). Rũ mòn: Gầy mòn, ý nói tương tư mà gầy mòn đi.
- Câu 327Suốt tháng tâm thần như gửi ở cung trăng.
- Đài gươngGiá cao,, trên mặt chiếc gương lớn và hộp đựng đồ trang sức của phụ nữ. Trong văn cổ, thường mượn chữ đài gương để chỉ người phụ nữ. Dấu bèo: ý nói thân phận hèn mọn như cánh bèo trôi nổi mặt nước. ở đây là lời Kim Trọng tự nói khiêm.
- Băng tuyếtý nói trong sạch, thanh bạch. Chất hằng: Một thể chất lúc nào cũng như thế. Phỉ phong: Hai thứ rau, người ta dùng lá và củ nấu canh hoặc muối dưa làm món ăn hàng ngày. ý cả câu: Gia đình vốn thanh bạch, mà tư chất thì cũng bình thường, không có tài sắc gì, lời Kiều tự khiêm (Bốn chữ trên nói gia đình, bốn chữ dưới nói bản thân).
- Lá thắmđã giảng ở câu 268. Chỉ hồng: Do chữ xích thằng (sợi dây đỏ) theo sách Tục U quái lục: Vì Cố, người đời Đường, đi cầu hôn, vào nghỉ quán trọn, gặp một ông già ngồi dưới bóng trăng, mở cái túi vải, đang kiểm sổ sách. Vi Cố hỏi, ông già trả lời: Đây là sổ sách hôn nhân, và chiếc túi vải này dùng đựng những dây đỏ (xích thằng) dùng để buộc chân đôi vợ chồng. Do điển này mà có những danh từ: "chỉ hồng", "tơ hồng" để chỉ việc nhân duyên vợ chồng, và "Nguyệt lão" (ông già dưới trăng), "Trăng già", "ông Tơ", để chỉ người làm mối mai. Tục xưa: khi cưới vợ, thường làm lễ Tơ hồng, tức là tế ông Nguyệt lão xe dây đỏ đó.
- Dù chăngDù chẳng, nếu không.
- Khuôn thiêngKhuôn tạo hóa, chỉ trời. Khuôn do chữ quân, tức là cái khuôn dùng để nặn đồ gốm. Người xưa ví tạo hoá đúc nặn ra muôn vật như cái khuôn nặn ra các đồ gốm, nên gọi Tạo hoá là Hồng quân, Thiên quân, (khuôn trời). Tấc thành: Tấc lòng chân thành, thành thực.
- Lượng xuânNguyên nghĩa là tấm lòng tốt đẹp như mùa xuân. Còn có thể giải là tấm lòng của người phụ nữ trẻ tuổi, xinh đẹp.
- Chiều xuânNhư nói tứ xuân (Xuân tứ). Nét thu: Nét thu ba, nét sóng thu, tức con mắt.
- Đá vàngDo chữ kim thạch. Kim đây là loài đồng, chỉ chuông đồng, vạc đồng;thạch là đá, chỉ bia đá. Thời xưa, những việc lớn, những công đức hay châm ngôn, thường được người ta khắc vào chuông đồng, bia đá, để lưu truyền thiên cổ. Do đó, người ta thường dùng danh từ kim thạch để chỉ cái gì có tính cách vĩnh cửu bền vững, không thay đổi được, như ghi tạc vào vàng đá. Đây nói: Kiều nhận lời gắn bó với Kim Trọng, và xin ghi tạc lời đó, như ghi tạc vào vàng đá.
- BảBản Trương Vĩnh Ký chú Bả là cầm. Quạt hoa quì: Chiếc quạt bằng lá quì vẽ hoa.
- Tất giaoSơn và keo, chỉ tình nghĩa gắn bó bền chặt với nhau như hai chất keo và sơn.
- Lầu trangLầu trang điểm, chỉ dùng lầu ở của phụ nữ.
- Đá biết tuổi vàngMuốn xem vàng bao nhiêu tuổi, xấu tốt thế nào, người ta thường dùng thứ đá cuội đen để thử, gọi là hòn đá thử vàng. Qua sự trao đổi, Kim-Kiều đã hiểu biết và yêu nhau, như đá biết rõ tuổi vàng.
- Sông thươngHai câu này lấy ý ở bài thơ trong Tình sử:" Quân tại Tương giang đầu, Thiếp tại Tương giang vĩ, Tương tư bất tương kiến, Đồng ẩm Tương giang thuỷ". Dịch nghĩa: Chàng ở đầu sông Tương, Thiếp ở cuối sông Tương, Nhớ nhau mà chẳng thấy nhau, Cùng uống nước sông Tương.
- Tuyết trở sương cheý nói bức tường của nhà Kiều với nhà Kim Trọng như có tuyết sương ngăn trở, che khuất khiến cho hai người gặp gỡ trao đổi tin tức.
Lời thơ và chú giải: kho dữ liệu Truyện Kiều của Bói Kiều (bản Quốc ngữ 3254 câu). Nội dung mang tính tham khảo.